Các bài viết

Cá Lóc và cá Quả

 

Từ rất lâu người ta đã nhầm lẫn thậm chí cho rằng cá Lóc (cá Sộp) và cá Chuối (cá Quả) là một loài cá và chỉ khác nhau về tên gọi. Miền Nam gọi là cá Lóc và miền Bắc gọi là cá Chuối.

 

Nhưng quan niệm đó hoàn toàn sai lầm vì cá Lóc và cá Chuối là hai loài cá hoàn toàn khác nhau tuy chúng cùng thuộc họ Ophiocephalus.

 

- Cá Lóc :

 

  • Có tên khoa học là Ophiocephalus Striatus, thuộc Bộ Perciformes. Bộ cá này gồm đến hơn 7000 loài.

  • Cá Lóc nằm trong bộ phụ Channoidei (hay còn gọi Ophiocephaliformes).

Đặc điểm sinh học và phân bố:

 

Bộ phụ cá lóc có hơn 10 loài. Cá có thân thuôn dài tròn, màu nâu xám, có những chấm đen và hình thành những mảng đen lớn nằm trên da. Miệng ngắn và rộng, bụng trắng. Đầu cá to nhiều vảy. Vây lưng và vây hậu môn có chấm. Trước đây thì theo báo cáo (hình 1), cá sinh trưởng tại những vùng nước ngọt ở Ấn Độ Dương và nhiều đảo thuộc Thái Bình Dương.

 

Ngày nay, cá Lóc phân bố rộng tại Ấn Độ, Trung Hoa, Thái lan và các nước Đông Dương trong đó có Việt Nam. Cá có bộ phận hô hấp phụ ở mang trên và bong bong dài, không thông với thực quản, có thể thở ôxi trong không khí, nên có khả năng sống khá lâu trên cạn.

 

Tại Á châu có những loài chính Channa asiatica, dài tối đa chừng 30 cm và loài Ophicephalus lớn hơn nhiều và trọng lượng có thể lên đến 20 kg. Ở những vùng nước chảy mạnh, những con mồi nhỏ khó thoát được miệng cá Lóc, cá Lóc có thể đớp con mồi dài bằng nửa thân của nó. Cá ăn mạnh vào mùa hè, cà ngưng kiếm ăn khi nhiệt độ giảm xuống dưới 12 0C.

 

Sinh sản

 

Channa striata (Bloch, 1793) - cá lóc con (ròng ròng)

 

Cá Lóc bắt đầu đẻ trứng khi đến 1-2 tuổi. Trong 1 năm có thể đẻ 5 đợt, mỗi đợt trong mùa cách nhau khoảng 15 ngày. Sau mỗi lần đẻ trứng, cá sẽ lo bảo vệ cá con chừng 20-30 ngày, rồi tiếp tục đẻ trứng lần khác. Cá thường đẻ trứng vào sáng sớm ở nơi yên tĩnh, có nhiều khu thực vật thủy sinh, trước khi đẻ cá thu nhặt các cây rong, cỏ làm tổ hình tròn (đường kính 40-50 cm). Đẻ xong cá mẹ bảo vệ tổ đến khi trứng nở thành con, thường sau 72 giờ ở nhiệt độ 20-35 °C.

Cá 1 tuổi dài chừng 16 cm, nặng 150 gram.

Cá 2 tuổi: 35-45 cm, nặng 600-1400 gram.

Cá 3 tuổi: 45-60 cm, nặng 1200-2000 gram.

Cá có thể sống trên 10 năm, dài 70-85 cm và nặng 7-8 kg. Cá sinh sống tại những vùng nước ít di động như hồ, ao, ruộng. Cá ăn tạp, ăn cá nhỏ, ếch nhái, côn trùng và những loài cá nhỏ. Cá làm tổ đẻ trứng và bảo vệ trứng cùng cá con.. Trung Hoa gọi cá là Lễ ngư và cho là có vị ngọt, tính hàn có tác dụng bổ tỳ, lợi thủy.

Sách Dược tính chỉ nam ghi nhận những tác dụng trị liệu khác nhau của thịt cá Lóc, gan/ruột cá Lóc, mật cá Lóc:

- Thịt cá Lóc: vị ngọt, tính hàn, có công hiệu ‘tả nhiệt, tiêu thủy’. Lợi tiểu tiện, làm tan thũng độc và thấp tỳ. Trị được trĩ và tê thấp.

- Gan và ruột cá lóc (Lễ ngư tràng cập can): chiên với ngũ vị rồi dung dán vào búi trĩ và mụt nhọt để trừ mủ và nước vàng nơi vết thương.

Mật cá Lóc (Lệ ngư đảm). Bắt cá vào trong chạp, lấy mật phơi khô trong mát. Mật có tính bình, vị đắng. Dùng để chữa ” bệnh hầy tỵ” (?). Điểm đặc biệt nhất của mật cá Lóc là vị ngọt, ăn được (trong khi đó, tất cả các loại mật cá khác đều đắng).

 

- Cá Chuối (cá Quả)

  • Cá Quả tên khoa học Ophiocephalus Maculatus, cũng thuộc họ Ophiocephalus (Channoidei) và thuộc Bộ cá Perciformes.

  • Thường gặp và phân bố rộng có 2 loài là: Ophiocephalus Maculatus và Ophiocephalus Arbus (cá Quả Trung Quốc), nhưng đối tượng nuôi quan trọng nhất là loài O.Maculatus thuộc Bộ cá Quả, họ cá Quả, giống cá Quả.

Cá Quả Trung Quốc

 

Cá Quả Việt Nam (ảnh trích VNA forum)

 

Phân bố: Lúc trước phạm vị sinh sống của chúng là ở Oahu, Hawaii và chúng đã được xác nhận phân bố rộng khắp Ấn Độ và Vùng vịnh Thái Bình Dương ( hình 2). Như hình 2 chỉ rõ thì cá Qủa chỉ phân bố ở miền Bắc Việt Nam.

 

Đặc điểm hình thái: Vây lưng có 40-46 vây; vây hậu môn có 28-30 tia vây, vảy đường bên 41-55 cái. Đầu cá Quả O.Maculatus có đường vân giống như chữ “nhất” và 2 chữ bát còn đầu cá O.Arbus tương đối nhọn và dài giống như đầu rắn. Bụng tròn, thân dài tròn, vây đều không có gai. Thân có nhiều đốm đen, lưng đen nhạt, bụng trắng vàng. Dọc thân vó hai hàng chấm đen.

 

Tập tính sinh học: Thích sống ở vùng nước đục có nhiều rong cỏ, thường nằm phục ở dưới đáy vùng nước nông có nhiều cỏ. Tính thích nghi với môi trường xung quanh rất mạnh, nhờ có cơ quan hô hấp phụ nên nó có thể hít thở được O2 trong không khí. Ở vùng nước hàm lượng O2 thấp cũng vẫn sống được, có khi không cần nước chỉ cần da và mang cá có độ ẩm nhất định vẫn có thể sống được thời gian khá lâu.

a- Dinh dưỡng : Cá Quả cũng thuộc loại cá dữ. Thức ăn là chân chèo và râu ngành; khi đạt kích cỡ từ 3-8 cm ăn côn trùng, cá con và tôm con; và thân dài trên 8 cm ăn cá con. Khi trọng lượng nặng 0,5 kg có thể ăn 100 g cá. Trong điều kiện nuôi nó cũng ăn thức ăn chế biến. Mùa đông không bắt mồi.

 

b- Sinh trưởng: Tương đối nhanh. Con lớn nhất đến 5 kg, nhìn chung : cá 1 tuổi, thân dài đo được từ 19-39 cm nặng 95- 760 gam; Cá 2 tuổi thân dài 38,5 - 40 cm, nặng trong khoảng 625 - 1.395 gam; cá 3 tuổi thân dài 45 - 59 cm, nặng 1.467 - 2.031 gam (con đực và cái chênh lệch lớn); khi nhiệt độ trên 20-°C cá lớn nhanh - dưới 15 °C, cá sinh trưởng chậm.

 

c. Tập tính sinh sản: Mùa vụ đẻ trứng từ tháng 4-7, rộ nhất trung tuần tháng 4-5. Cá tròn 1 tuổi, thân dài 20cm nặng 130 gam đã thành thục đẻ trứng. Số lượng trứng tùy theo cơ chể to nhỏ mà thay đổi. Cá nặng 0,5 kg số lượng trứng 8.000 - 10.000 cái - cá nặng 0,25 kg, có số lượng từ 4.000 - 6.000 trứng. (Tạp chí khoa học và công nghệ thuỷ sản).

Các loại cá Channoidei khác

 

(Site tham khảo thêm)

 

Channa asiatica (Linnaeus, 1758)

 

Channa aurantimaculata (Musikasinthorn, 2000)

 

Channa baramensis (Steindachner, 1901)

 

Channa barca (Hamilton, 1822)

 

Channa bleheri (Vierke, 1991)

 

Channa gachua (Hamilton, 1822)

 

Channa limbata (Cuvier, 1831)

 

Channa lucius (Cuvier, 1831)

 

Channa maculata - cá chuối (Lacepède, 1801)

 

Channa marulioides (Bleeker, 1851)

 

Channa marulius (Hamilton, 1822)

 

Channa melasoma (Bleeker, 1851)

 

Channa micropeltes - cá lóc bông (Cuvier, 1831)

 

Channa nox (Zhang, Musikasinthorn & Watanabe, 2002)

 

Channa orientalis (Bloch & Schneider, 1801)

 

Channa panaw (Musikasinthorn, 1998)

 

Channa pleurophthalmus (Bleeker, 1851)

 

Channa stewartii (Playfair, 1867)

 

 

Thanh Nga (2008)

caucavietnam.com