Bài viết

Không dễ câu những loài cá có... râu !

Cái, thường làm "tức điên cả người (híc)" mà chúng ta (dân câu) thường gặp trong nghiệp câu cá giải trí, thường không phải là hoàn cảnh bị "móm" toàn tập mà ngược lại : cá cắn câu, nhưng giật không dính ! Đó là những cú đớp rất rụt rè, dè dặt và thận trọng thậm chí người đang cầm cần câu chẳng thể nhận biết. Hiện tượng này, đa số xuất phát từ những loài cá có râu như : chép, chép tinca, chép barbeau... kể cả các giống cá da trơn quen tìm mồi ở đáy nước : trê, ngát, nheo... Chúng thường tạo các cú "chạm" nhẹ vào mồi bằng mép, nhiều nhất là bằng râu trước khi thực sự đớp lấy.

 

Tất cả các loài cá có cấu tạo cơ thể đặc biệt như trên (có râu) đều làm như vậy. Sau đó, mức độ háu mồi sau khi đã kiểm tra bằng râu mép, tùy thuộc vào tập tính của từng loài (ví dụ: cá trê sẽ nuốt mồi nhanh hơn rất nhiều so với chép tinca).

 

Những loài cá trắng có râu ứng xử một cách khác hẳn các loại cá khác khi đớp mồi, và khi kiếm ăn nói chung. Điều này có ảnh hưởng lớn đến kỹ thuật câu áp dụng để lừa chúng.

 

Những nhận xét chung về mồi câu.

 

Mồi câu chỉ định để lừa cá có râu cần có kích thước to hơn thông thường. Ví dụ như đối với ruột bánh mỳ. Trong khi một mẩu nhỏ bánh là đủ để câu 1 chú chày to, thì để dụ được một con cá tinca có cùng cân nặng, phải dùng một mẩu bánh to hơn rất nhiều.

 

Cá mèo (catfish hay poisson chat) một loại cá da trơn, có râu, nguồn từ châu Mỹ, nhập cư "nhầm" vào châu Âu (Pháp và một số nước khác) vào thế kỷ trước, thuộc giống cá cần phải hủy diệt bằng mọi giá vì người ta cho rằng chúng gây tổn hại nghiêm trọng cho môi trường tự nhiên (thích "xơi trứng của các loài cá khác).

 

Có thể nói cá trê là loài cho phép thực hiện các nghiên cứu hiệu quả nhất về hoạt động của các loài cá có râu, vì phản ứng của chúng trước miếng mồi rất rõ ràng. Ta cũng biết rằng : trong nước, loài cá nào khi mà khả năng thị giác yếu thì sẽ được tạo hóa bù lại bằng các “giác quan phụ”, để sinh tồn. Do vậy, loài cá có râu luôn tinh ranh, cảnh giác và có hệ xúc giác phát triển hơn, vì hệ thị giác của chúng lại không nhậy bén bằng cá mương hay cá hồi (giống cá bắt mồi khi nhìn thấy). Từ nhận xét này, ta có thể kết luận : để câu được chúng thì nên đặt mồi bất động trên mặt đáy nước hơn là treo lửng trước mấy cái mõm tua tủa râu dài, ngắn... Có như thế, mồi câu sẽ dễ được nuốt hơn thay vì ở một vị trí không mấy thuận tiện để tiếp cận.

 

Trở lại với thái độ của cá trê khi tiếp xúc mồi câu. Quan sát một mẩu tôm thả trên đáy của một bể nuôi cá bằng kính, miếng mồi ẩn hiện giữa đám sỏi vụn không đủ điều kiện khiến cho loài cá rất phàm ăn này ngoạm lấy. Dù nhiều lần lượn qua lượn lại, một số còn sượt qua mẩu tôm (mà không chạm phải), tuy mắt hướng về phía mồi, nhưng cá vẫn không làm sao nhận biết được vị trí chính xác của mẩu thức ăn.

 

Cần phải làm cho mồi dễ chạm vào mũi chúng (râu thì đúng hơn). Và việc phải làm khi buông câu thật sự là : tăng kích cỡ của miếng mồi, bạn sẽ thấy cơ hội được "chạm" sẽ tăng thêm nhiều hơn. Vì trong mọi trường hợp, khi quan sát liên tục thái độ của lũ cá lượn đi lượn lại trong bồn kính lúc cho chúng ăn, nếu như mà bạn nhìn thấy một con trong số, đớp vào mẩu tôm, thì mười lần như một, một trong những cọng râu của con cá ấy đã đụng phải miếng mồi.

 

Nói cách khác, dùng thị giác đối với chúng chưa đủ để kiếm ăn. Ngược lại, khi 1 trong những sợi râu "sờ" đúng phải mồi, thì độ chính xác và nhanh nhạy khi đớp mồi của cá rất ấn tượng. Đang bơi ngang bình thường, cá có thể lượn mình, chúi đầu, để hớp lấy mẩu thức ăn. Chắc chắn, râu của cá có khả năng phân biệt được đâu là nguồn thức ăn vì nếu râu của chúng chạm vào các những vật trung tính nào đó như sỏi đá, cành cây mục... thì chẳng bao giờ chúng há miệng ra nuốt.

 

Vì có khả năng nếm mồi trước khi nuốt, nên câu những loài cá này phức tạp hơn loài cá tìm mồi bằng thị giác rất nhiều. Kinh nghiệm rất đơn giản sau đây xác thực điều này : Trong một hồ cá cảnh ở vườn nhà, khi ném nhẹ một viên bi gỗ phía sau một bầy cá chày mắt đỏ, bạn sẽ thấy, viên bi bị tấn công ngay lập tức, nhưng sau đó, sẽ bị nhả ra ngay. Cùng thử nghiệm, cũng viên bi gỗ này, được chèn thêm chì để có thể chìm tận đáy. Khi xuống đến đáy, không có một con cá trê hay cá đục nào "nhầm mồi" để nuốt cục mồi gỗ cả… Phải nói, râu cá càng ngắn, theo tỷ lệ so với chiều dài cơ thể, thì việc câu chúng càng phức tạp (cá chép hay cá tinca). Những cần thủ câu chép ngày nay rất hiểu điều đó, và những công thức chế biến mồi viên "boilie" ấn tượng, nhất là các loại tinh dầu và hương liệu mà họ sử dụng, hoàn toàn không phải là vô ích. Hơn nữa, trong lĩnh vực này, các chuyên gia còn có thể triển khai kinh nghiệm thu thập từ những tích lũy liên quan đến kỹ thuật câu mọi loại cá nói chung. Việc này đã giúp cho các nhà sản xuất mồi câu, ý tưởng thử nghiệm để phân phối những mồi viên mini dùng để câu cá tinca, cá chép barbeau... cũng bắt đầu nhen nhúm.

 

Cá có râu và hình dạng mồi : một quan hệ chặt chẽ.

 

Qua các phân tích trên, ta hiểu rằng với cá có râu thì mồi câu phải có kích thước lớn. Nhưng cần phải đi xa hơn một chút khi đặt ra câu hỏi: nên sử dụng mồi có kích thước lớn hay luôn đối xứng ? Về mặt này, chúng ta cần nên tuân thủ một qui tắc: cá có râu càng ngắn thì mồi càng phải lớn và không đối xứng. Trong mọi trường hợp, cần phải tính đến việc cá có râu luôn nếm qua mồi trước khi nuốt, do đó nên nhận biết thời điểm "dừng" giữa những cú đớp thử nhẹ từ môi của chúng.

 

Những bộ phận báo cá điện tử lắp ở các hệ thống câu chép luôn phát ra những tín hiệu "bíp", từng âm một, trước khi phát âm thanh "bíp, bíp" liên tục, từng chuỗi dài. Rõ ràng là trong trường hợp này, cá chép đã thử qua viên mồi trước khi nuốt nó. Tác động "nẩy lên" của phao nhỏ khi câu sông cũng có tác dụng như vậy khi ta câu cá đục Âu.

 

Hơn bao giờ hết, đường câu các loại cá này phải cực nhẹ. Những thăm dò qua xúc giác mà loại cá có râu thực hiện là một phép thử cực kỳ nhạy bén, cho phép nó cảm giác được sự có mặt của viên mồi quá lớn hay sợi dây câu không được mềm mại lắm. Trong trường hợp này, những cú chạm sơ khởi truyền đến phao (hoặc các thiết bị báo khác) là tín hiệu duy nhất được ghi nhận và hệ lụy tiếp theo - cá ngừng tiếp cận mồi.

 

Tóm lại, cá sẽ không thử lại viên mồi đã "bỏ qua" nữa vì nó đã phát hiện ra một điều gì đó bất thường ( BBT: nhưng miếng mồi câu này, vẫn có thể bị 1 chú cá khác nếm thử)…

 

Qua các trường hợp như vậy, mới nhận thấy được lợi ích của kỹ thuật lắp thẻo “hair rig (thẻo sợi tóc)” – một kỹ thuật có thể được áp dụng với bất kỳ cách câu đáy nào. Qua các thử nghiệm với cách câu đáy với cần quivertip (cần có đọt báo cá), cho thấy kỹ thuật câu này phù hợp khi ứng dụng để săn bắt các loài cá có râu hơn là có tác dụng tốt với cá vền và cá chày (cũng thuộc họ chép, nhưng không râu).

 

Mồi di động hay cố định.

 

Trong trường hợp đặc biệt, khi mồi bắt buộc phải neo lửng (ví dụ nơi đáy nước phủ lắm rong rêu hay nhiều bùn non), luôn cần phải có một giải pháp. Ở hoàn cảnh này, mồi câu có thể bị chao đảo mạnh do cần câu bị đong đưa, hay đường câu bị gió đẩy bị di chuyển ít nhiều là điều không thể tránh. Và vấn đề này cũng không tránh được khi câu đáy ở vùng nước chảy, do đường câu bị dòng chảy nhiễu động. Trong những trường hợp đặc biệt như thế, loài cá "râu" buộc phải thích ứng với các mẩu thức ăn luôn bị xê dịch một cách tự nhiên, ngược lại với bản chất của chúng. Từ những nhận xét đó, dân câu đã phát minh các kỹ thuật câu thực sự phù hợp, cho phép chế ngự tốt nhất những nhiễu loạn tự nhiên của mồi. Vì thế các kỹ thuật neo chì hiện đại – nhất là cách câu "quivertip" – với mồi câu được đặt nằm trên đáy nước hoặc treo lửng luôn cố định bằng một viên chì neo, là kỹ thuật câu hiệu quả nhất và nên được ưu tiên sử dụng.

 

Cá ngát châu Á có 8 sợi râu, mắt rất nhỏ so với đầu !

 

Minh Châu (2009)

caucavietnam.com