Bài viết

Cá rồng Châu Úc (Saratoga)

Tên khoa học

Scleropages jardinii

 

Những tên khác

Trân châu long

Australian Arawana.
Bony Tongue.
Gulf Saratoga

 

 

Các loài Saratoga


Châu Úc là quê hương của hai loài Saratoga hay cá rồng có quan hệ huyết thống gần gũi. Loài đầu tiên được biết dưới các tên: Northern Saratoga, Jardine Saratoga, Jardini Saratoga, Gulf Saratoga, kim long Úc hay trân châu long (tên khoa học Scleropages jardinii). Loài thứ hai được biết dưới các tên: Dawson River Saratoga, Southern Saratoga, Spotted Barramundi, Leichardti Saratoga hay hồng điểm long (tên khoa học Scleropages leichardti). Cả hai loài từng được gọi là Barramundi (cả ở châu Úc và những nơi khác trên thế giới) mặc dù cách gọi này dễ gây nhầm lẫn với loài Barramundi thực sự, tức loài cá vược hay cá chẽm (Lates calcarifer). Những hoá thạch sống này xuất hiện cách nay khoảng 200 triệu năm. Tên chi Scleropages có nghĩa “nút chặt” (sclero=chặt, cứng; pages=cột nút) ám chỉ những cái vảy của chúng. Loài jardinii được đặt theo tên của nhà sưu tầm và tự nhiên học F. Jardine. Loài leichardti được đặt theo tên của nhà thám hiểm L. Leichardt.

Các loài Saratoga là những thành viên nổi bật thuộc về một họ cá cổ xưa và có phân bố rộng, họ cá rồng Osteoglossidae. Thân hình chúng rất dẹp với cái miệng nhô lên phía trên, vảy lớn và râu nằm ở cằm. Điểm khác biệt giữa chúng với các loài cá rồng châu Á ở chỗ, đường bên cá rồng châu Úc có từ 32-35 vảy trong khi cá rồng châu Á chỉ có từ 21-25 vảy. Lưng Saratoga có màu từ xanh lá cây-xám đến nâu, thân có màu vàng-đồng (đối với jardinii) hay xanh lá cây-ánh bạc (đối với leichardti). Trên vảy leichardti có từ một đến 3 chấm đỏ trong khi vảy jardinii lại có rất ít chấm, thay vào đó hầu hết các vảy có những điểm dính liền với nhau thành một đường viền. Màu vây tương tự như màu thân hay đậm hơn. Cả hai loài đều có những chấm trên vây và đuôi, leichardti có vô số những chấm nhỏ xếp thành hàng trong khi jardinii có ít chấm hơn nhưng chấm lại to. Ở jardinii, các chấm có màu từ vàng, cam đến đỏ trong khi ở leichardti, các chấm luôn có màu đỏ-cam. Hầu hết các cá thể jardinii có những đường vằn vện và đốm trên nắp mang, trong khi (theo tôi được biết) chúng không hề xuất hiện trên nắp mang của loài leichardti. Một đặc điểm khác nữa ở jardinii đó là đầu hơi cong xuống so với lưng làm cho chúng trông hơi nhỏ so với thân. Trái lại đầu của leichardti không cong và trông bằng phẳng so với lưng.

Saratoga hoang dã thường nặng từ 0.5 đến 3 kg nhưng cũng có con nặng tới 10 kg. Loài ở phía bắc lớn nhanh hơn so với chị em họ với nó ở phía nam. Loài phía bắc bắt đầu sinh sản vào đầu mùa mưa, khoảng tháng 10. Loài phía nam bắt đầu sinh sản vào các tháng 8 hay 9 và cá con xuất hiện trên thị trường cá cảnh vào khoảng tháng 11. Cá rồng châu Úc tương tự như các loài cá rồng khác, cũng sinh sản bằng hình thức ấp miệng tức chúng ngậm trứng trong miệng để ấp (từ 50 đến 100 trứng). Khi cá con nở, chúng được cá mẹ chăm sóc (khoảng 5 tuần) và khi gặp nguy hiểm, nó sẽ há miệng để cá con chạy trốn tìm nơi trú ẩn.

Địa bàn phân bố


Saratoga thích hợp với các dòng chảy và sông vùng nhiệt đới. Chúng đặc biệt ưa thích những vùng nước yên tĩnh bao phủ bởi cây bông súng, những kênh nước trên bờ có nhiều dứa dại và đầm nước tù. Người ta thường thấy chúng nổi lên gần mặt nước ở những nơi như vậy. Loài ở phía nam có thể chịu đựng được nhiệt độ thấp đến 10 độ C trong một thời gian ngắn trong khi loài ở phía bắc không thể sống sót khi nhiệt độ xuống thấp hơn 15 độ C. Saratoga là loài săn mồi tầng mặt và thường bơi gần lớp thực vật nổi trên mặt nước, đặc biệt là những vùng có lá súng, rễ dứa dại và bên dưới nơi có đàn dơi cáo sinh sống. Chúng là những loài săn mồi cơ hội, chúng săn cá nhỏ, tôm và tép. Ếch nhái, thằn lằn, rắn, côn trùng và cả những con chim nhỏ cũng nằm trong thực đơn của chúng.

Cả hai loài đều phân bố ở những vùng nước ngọt gần bờ biển. Loài phía nam (S. leichardti) cư ngụ trong hệ thống sông Dawson/Fitzroy ở vùng trung tâm bang Queensland. Loài phía bắc (S. jardinii) phân bố rộng hơn, rải rác từ phía tây Cape York, Gulf Country đến phía đông bang Northern Territory. Scleropages leichardti được con người thả vào hàng loạt các con sông, đầm nước và ao nuôi xa hơn về phía nam, vùng Brisbane. Mục đích của việc chăn thả này là để phục vụ cho việc câu cá. Loài phía bắc cũng được phát hiện ở New Guinea.

 

Hình thái màu


Cả hai loài đều có khả năng điều chỉnh màu sắc trên thân và vây tuỳ vào môi trường mà chúng sinh sống. Trong môi trường sáng sủa (chẳng hạn như để đèn sáng, không có nền đáy và giấy dán hồ) thì cá sẽ nhạt màu. Nhưng nếu hồ tối hơn (chẳng hạn như để đèn mờ, bố trí nền đáy bằng sỏi đậm màu… ) thì cá sẽ đậm màu hơn. Jardinii non cũng thay đổi màu sắc một khi chúng trưởng thành. Loại đèn chiếu sáng (đèn màu) cũng tác động đến màu sắc của cá.

Jardinii có các màu: đỏ, vàng, đồng, đen-tím, tím nhạt và xanh lá cây nhạt. Dù vậy, đa số những màu này có lẽ hình thành dưới tác động của môi trường. Tôi tin rằng loài leichardti ít có khả năng thay đổi màu sắc theo môi trường so với loài jardinii. Leichardti thường có màu ô-liu ửng đỏ/hồng hay thậm chí ửng xanh dương. Một người nuôi cá ở Queensland gửi mail cho tôi kể về con leichardti màu đỏ của anh nhưng tôi chưa hề thấy tấm hình nào cả. Nếu ai thấy những dạng màu sắc khác và có cả hình ảnh thì tôi sẽ bổ sung vào đây. Sau đây là vài hình ảnh về hình thái màu ở jardinii và leichardti.


Trân châu long (S. jardinii)

 

 

 


Hồng điểm long (S. leichardti)

 

 

Phương pháp câu

 

Câu bẫy với máy câu và cá chép nhỏ

Hoặc câu flyfishing với mối ruồi khô hay ướt đều được.

 

T.L tham khảo : http://forum.ctu.edu.vn